Một nhóm các nhà khoa học đã dành sáu tháng đồng thiết kế robot với những người chăm sóc không chính thức cho những người mắc chứng mất trí nhớ, chẳng hạn như các thành viên trong gia đình. Họ phát hiện ra rằng những người chăm sóc muốn robot thực hiện hai vai trò chính: hỗ trợ chia sẻ khoảnh khắc tích cực giữa những người chăm sóc và người thân của họ; và giảm bớt căng thẳng cảm xúc của người chăm sóc bằng cách thực hiện các nhiệm vụ khó khăn, chẳng hạn như trả lời các câu hỏi lặp đi lặp lại và hạn chế thực phẩm không lành mạnh.

Chế tạo robot có thể hỗ trợ những người mắc chứng mất trí nhớ là mục tiêu dài hạn. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có khảo sát những người chăm sóc không chính thức như thành viên gia đình về những đặc điểm và vai trò mà những robot này nên có.

Một nhóm các nhà khoa học tại Đại học California San Diego đã tìm cách giải quyết vấn đề này bằng cách dành sáu tháng cùng với các thành viên gia đình, nhân viên xã hội và những người chăm sóc khác chăm sóc những người mắc chứng mất trí nhớ đồng thiết kế robot.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng những người chăm sóc muốn robot thực hiện hai vai trò chính: hỗ trợ những khoảnh khắc tích cực được chia sẻ bởi những người chăm sóc và người thân của họ; và giảm bớt căng thẳng cảm xúc của người chăm sóc bằng cách thực hiện các nhiệm vụ khó khăn, chẳng hạn như trả lời các câu hỏi lặp đi lặp lại và hạn chế thực phẩm không lành mạnh.

“Những người chăm sóc quan niệm robot không chỉ quản lý các khía cạnh khó khăn của việc chăm sóc – mà còn để hỗ trợ các hoạt động mang lại niềm vui”, Laurel Riek, giáo sư khoa học máy tính tại UC San Diego, và tác giả của báo cáo cho biết.

Vợ chồng hoặc con cái trưởng thành cung cấp 75% chăm sóc cho những người mắc chứng mất trí nhớ. Điều đó tương đương với 15 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ, cung cấp 18 tỷ giờ chăm sóc không được trả lương mỗi năm với ít hỗ trợ cũng như tài chính. Những người chăm sóc có khi bỏ qua sức khỏe và phúc lợi của chính họ, điều này có thể khiến cả hai bên gặp nguy hiểm.

Hầu hết các công nghệ được thiết kế để hỗ trợ người chăm sóc chỉ tìm cách giáo dục, thay vì giảm gánh nặng. Người chăm sóc đôi khi cũng có quyền truy cập vào các hệ thống hỗ trợ ảo và kết nối với bác sĩ lâm sàng thông qua điện thoại thông minh hoặc máy tính để bàn. Nhưng điều này tập trung vào giáo dục và không hỗ trợ trực tiếp.

Ngược lại, robot tại nhà có thể cung cấp cho người chăm sóc sự nghỉ ngơi mà họ thực sự cần. Trước khi chế tạo robot, điều quan trọng là phải có thông tin đầu vào từ người chăm sóc để robot được thiết kế tốt và thực sự hữu ích.

Riek nói: “Các nhà nghiên cứu bắt buộc phải thực hiện một cách tiếp cận tập trung vào sức khỏe cộng đồng để hiểu quan điểm của các bên liên quan trước khi xây dựng công nghệ”.

Một nửa số robot được thiết kế bởi những người chăm sóc chủ yếu tập trung vào việc giảm bớt căng thẳng từ những câu hỏi lặp đi lặp lại mà những người mắc chứng mất trí nhớ đưa ra. Những người chăm sóc cũng tưởng tượng ra những robot có thể cung cấp lời nhắc về lịch trình và nhiệm vụ hàng ngày của một người. Họ cũng thiết kế robot để giúp trị liệu vật lý và quản lý thuốc.

Khi chứng mất trí tiến triển, những người chăm sóc muốn robot tương tác nhiều hơn với người mắc chứng mất trí nhớ bằng cách giúp đỡ các công việc hàng ngày và đưa ra lời nhắc nhở. Robt mà những người chăm sóc tưởng tượng đã đóng vai trò là cố vấn và người hỗ trợ – và đôi khi là “kẻ xấu” có thể nói “không” với người mắc chứng mất trí nhớ.

Các nhà nghiên cứu hiện đang sử dụng các nguyên mẫu công nghệ thấp ban đầu này để xây dựng các nguyên mẫu công nghệ cao mà họ dự định bắt đầu thử nghiệm tại nhà trong năm tới.

Đối với nghiên cứu, các nhà nghiên cứu do Riek đứng đầu đã xây dựng mối quan hệ với ba trung tâm chăm sóc mất trí nhớ khác nhau ở Hạt San Diego.

Một loạt các cuộc phỏng vấn và hội thảo thực hành với những người chăm sóc đã được thực hiện bởi hai sinh viên đại học khoa học nhận thức của UC San Diego, Sanika Moharana và Alejandro E. Panduro, và một tiến sĩ khoa học máy tính, Hee Rin Lee. Tổng cộng có 18 người tham gia nghiên cứu, trong đó có 13 thành viên gia đình đóng vai trò là người chăm sóc cho những người mắc chứng mất trí nhớ, năm nhân viên xã hội tốt nhất các trung tâm chăm sóc và ba sinh viên điều dưỡng lão khoa làm việc tại các trung tâm.

Dựa trên phản hồi của mọi người, nhóm nghiên cứu đã xác định 16 thách thức lớn mà người chăm sóc phải đối phó, từ khó chấp nhận chứng mất trí nhớ, đến cách ly, đến khó khăn trong việc ưu tiên chăm sóc bản thân.

Trong các hội thảo, các nhà nghiên cứu đã cho những người chăm sóc tìm hiểu qua về các loại công nghệ hiện có, bao gồm robot giống như thú cưng, robot làm sạch, robot thần giao cách cảm, loa thông minh và thiết bị đeo.

Sau đó, với sự giúp đỡ của học sinh, những người chăm sóc đã đưa ra các vấn đề chính và hợp tác thiết kế robot để giải quyết chúng. Họ sử dụng mô hình để xây dựng các nguyên mẫu robot. Họ cũng chọn các chức năng cho robot (như chơi trò chơi, xem lại album ảnh, tập thể dục, v.v.) và chế độ tương tác giữa robot và người mắc chứng mất trí nhớ cùng người chăm sóc (ví dụ như ra lệnh bằng giọng nói và màn hình cảm ứng).

Những người chăm sóc đã thiết kế robot lý tưởng của họ để tuân theo các kịch bản được xác định trước do các nhà nghiên cứu và nhân viên xã hội cung cấp, bao gồm ngăn người bị chứng mất trí nhớ lái xe, đưa họ đi tắm hoặc trả lời các câu hỏi lặp đi lặp lại.

Dựa trên kết quả của quá trình thiết kế cộng đồng kéo dài sáu tháng, các nhà nghiên cứu đã xác định một số đặc điểm và hướng dẫn thiết kế cho robot để hỗ trợ những người chăm sóc và những người mắc chứng mất trí nhớ:

Robot nên giúp chuyển hướng các cuộc hội thoại khi việc đặt câu hỏi lặp đi lặp lại trở nên nặng nề.

Robot nên được tích hợp với các đồ vật hàng ngày mà những người mắc chứng mất trí đã quen thuộc hoặc mượn các tính năng từ các đồ vật đó. Ví dụ, một người chăm sóc muốn chồng nhận được tin nhắn qua TV – thứ mà anh ta dành nhiều thời gian để xem.

Robot nên có khả năng thích ứng với các tình huống mới và hành vi của người mắc chứng mất trí nhớ. Điều này đặc biệt quan trọng vì chứng mất trí là một bệnh tiến triển và mỗi giai đoạn mang đến những thách thức mới cho người chăm sóc. Ngoài ra, mô hình của sự tiến triển khác nhau, kết quả là gần như không thể dự đoán.

Robot nên có thể học hỏi từ người dùng cuối, tùy chỉnh và cá nhân hóa sự tương tác và phản hồi của họ.

Robot nên có các thành phần giống con người. Điều đó không có nghĩa là họ nên trông giống con người. Thay vào đó, máy móc có thể, ví dụ, sử dụng giọng nói hoặc khuôn mặt thật của con người. “Khi những người chăm sóc muốn robot đóng vai trò tích cực trong việc thuyết phục những người mắc chứng mất trí nhớ làm điều gì đó, họ đã thiết kế robot với nhiều tính năng giống con người hơn”, các nhà nghiên cứu viết. Liên quan đến vấn đề này, những người chăm sóc muốn robot bao gồm các tính năng giúp xây dựng lòng tin, chẳng hạn như trông giống như một người bạn hoặc bác sĩ lâm sàng.

Robot nên tương tác với con người thông qua kích hoạt bằng giọng nói – giống như một chiếc loa thông minh. Cụ thể hơn, những người chăm sóc muốn robot sử dụng giọng nói mà người thân của họ sẽ quen thuộc – người chăm sóc hoặc bác sĩ. Những người chăm sóc cũng muốn robot có khả năng nhận diện khuôn mặt.

Vân Thùy

Theo Science Daily


“Sự tự do của những cỗ máy càng lớn, càng cần nhiều tiêu chuẩn đạo đức hơn”. Không chỉ có GoodAI, The Future of Life Institute, The Responsible Robotics Group, The Global Initiative on Ethical Autonomous Systems… Viện Michael Dukakis (MDI) cũng đang phát triển Sáng kiến Xã hội Trí tuệ nhân tạo (AIWS) với Mô hình AIWS 7 lớp; trong đó, lớp đầu tiên tập trung vào xây dựng một quy chuẩn trách nhiệm để điều hành những công dân AI và đảm bảo rằng AI có thể hòa nhập một cách an toàn vào xã hội.